
![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() | ||
![]() | Today | 225 |
![]() | Yesterday | 248 |
![]() | This week | 225 |
![]() | This month | 5303 |
![]() | All | 62848 |

| Đặc quyền nhiều, nộp thuế ít |
Không chỉ đến khi Vinashin sụp đổ, những bất cập của mô hình tập đoàn kinh tế Nhà nước mới bộc lộ. Trước đó, các chuyên gia kinh tế đã cảnh báo nhiều về hiện tượng phình to quá mức của các tập đoàn này do được hưởng nhiều đặc quyềnTrong
bảng xếp hạng 1.000 doanh nghiệp (DN) nộp thuế lớn nhất VN trong 3 năm
qua vừa được Công ty Cổ phần Báo cáo Đánh giá VN (Vietnam Report) công
bố, nhiều tập đoàn, tổng công ty Nhà nước đã không có mặt.
Trong số này có
những tên tuổi lớn như Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VN và tất nhiên là
cả Vinashin vì lý do số thuế thu nhập DN thấp hơn 9.000 tỉ đồng hoặc nợ
đọng thuế...
Đầu tư cao, đóng góp thấp
TS Nguyễn Quang A
nhìn nhận: DN Nhà nước luôn đứng đầu về sở hữu nguồn lực nhưng lại đứng
cuối cùng về đóng góp cho GDP, tạo công ăn việc làm, hiệu quả sử dụng
vốn... Mức thuế thu nhập DN thu được của các DN này chỉ chiếm 7% tổng
thu ngân sách Nhà nước.
Theo Trung tâm
Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư),
tỉ trọng vốn đầu tư của DN Nhà nước giảm từ mức 59,14% xuống 43,3%
trong giai đoạn 2000-2007 nhưng vẫn chiếm phần lớn trong tổng vốn đầu
tư phát triển toàn xã hội. Vốn kinh doanh và tài sản cố định của DN Nhà
nước cũng tăng nhanh và chiếm khoảng 50% trong tổng đầu tư xã hội.
![]() Công nhân ngành điện tại một công trình điện dân sinh ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Ảnh: THẾ DŨNG
Tuy nhiên, doanh
thu của khu vực này chỉ chiếm 31,5% trong tổng doanh thu của DN trong
năm 2007. Năm 2008, đóng góp vào thu nhập quốc dân của DN Nhà nước chỉ
đạt 27%. Giá trị sản xuất công nghiệp cũng chỉ chiếm 20% trong tổng giá
trị sản xuất công nghiệp của các thành phần kinh tế.
TS Nguyễn Đình
Cung, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương,
cho rằng vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước luôn chiếm tỉ lệ cao,
khoảng 1/2 tổng đầu tư xã hội nhưng tỉ lệ đóng góp vào GDP chỉ ở mức
37%-39%; số việc làm được tạo ra bởi khu vực kinh tế này thậm chí chỉ
chiếm 4,4% tổng số lao động.
Không hoàn thành nhiệm vụ
Như vậy, có thể nói
các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước chưa thật sự đảm nhiệm được vai trò
chủ đạo vì hoạt động kém hiệu quả hơn các khu vực khác, vẫn còn dựa
dẫm, ỷ lại vào các chính sách ưu đãi của Nhà nước dưới nhiều hình thức.
Bài học này rõ nhất từ hiện thực thiếu điện và dở dang của ngành công nghiệp đóng tàu.
Theo TS Vũ Đình
Ánh, Học viện Tài chính (Bộ Tài chính), tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước yêu cầu ngành điện phải đi trước một bước để phục
vụ nhưng trong thực tế, điện không những không đi trước một bước mà còn
đi sau. VN đang đứng trước nguy cơ mất an ninh năng lượng điện do cung
không đủ cầu dẫn đến tình trạng thiếu điện, cắt điện ngày càng phổ
biến, tác động tiêu cực đến sản xuất kinh doanh cũng như đời sống nhân
dân.
Các “ông lớn” như
Tập đoàn Điện lực VN (EVN), Tập đoàn Dầu khí Quốc gia VN (PVN), Tập
đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản VN (TKV) được giao trọng trách bảo
đảm nguồn cung điện cho nền kinh tế song sản lượng điện phát ra lại chỉ
tăng 6%-10%/năm (thậm chí năm 2006 còn giảm gần 6% so với năm trước)
nên tỉ trọng của kinh tế Nhà nước trong tổng sản lượng điện phát ra đã
giảm từ gần 97% năm 2004 xuống còn gần 71% năm 2009.
Trong khi khu vực
kinh tế ngoài Nhà nước chỉ bảo đảm một phần không đáng kể nguồn điện
với 13 triệu KWh năm 2009 (con số này năm 2000 là 11 triệu KWh), chủ
yếu do đầu tư nguồn điện đòi hỏi vốn lớn và chậm thu hồi vốn đầu tư nên
không hấp dẫn khu vực kinh tế ngoài Nhà nước thì khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài (FDI) đã tích cực lấp vào khoảng trống này mặc dù có nhận
định là do giá điện thấp nên không hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.
Khu vực FDI có lợi
thế về vốn và sẵn sàng chấp nhận thời gian thu hồi vốn dài do họ là
những nhà đầu tư chuyên nghiệp với cam kết đầu tư lâu dài. Kết quả là
sản lượng điện của khu vực FDI tăng tới 20%-30%/năm, thậm chí năm 2006
tăng gấp 4 lần so với năm 2005, năm 2009 gấp 8,4 lần so với 2005 và gấp
gần 14 lần so với năm 2000. Tỉ trọng của khu vực FDI trong tổng sản
lượng điện phát ra đã tăng vọt từ 5,4% năm 2005 lên gần 30% năm 2009.
|