
![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() | ||
![]() | Today | 248 |
![]() | Yesterday | 248 |
![]() | This week | 248 |
![]() | This month | 5326 |
![]() | All | 62871 |

| Kinh doanh khi “lãi suất cao nhất thế giới” |
|
Lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp đang quá cao so với tình hình chung của nền kinh tế thế giới. Giới hạn “sức chịu đựng” của doanh nghiệp như thế nào? Thông tư 13 của ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành ngày 20/5/2010, có hiệu lực thi hành ngày 1/10/2010 thì ngày 27/9/2010, NHNN lại ban hành thông tư 19 để “sửa đổi một số điểm mấu chốt của thông tư 13”.
Các doanh nghiệp Việt Nam đang chịu áp lực cạnh tranh trong kinh doanh rất lớn vì phải kinh doanh trong môi trường lãi suất cao “nhất thế giới”. Có chăng, chúng ta đang vận hành nền kinh tế theo một kiểu “đặc thù riêng” nào đó? Đặc điểm đó là gì? Ai có thể lý giải nó một cách “tâm phục, khẩu phục”? Tại sao lãi suất cơ bản của NHNN là 8%/năm, cũng thuộc loại “nhất thế giới”? Tại sao cả các ngân hàng và cả doanh nghiệp đều phải thấp thỏm dõi theo lãi suất cơ bản hàng tháng và các chính sách như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất liên ngân hàng, tỷ giá USD… với nhiều nỗi lo âu như vậy? Các nhà làm chính sách lại dõi theo chỉ số giá tiêu dùng hàng tháng (CPI) để rồi đưa ra các chính sách cũng theo kiểu “hàng tháng” giống như “chạy chợ” này? Về phía NHNN, cơ quan này có khó khăn gì hay lợi ích gì mỗi khi ban hành và điều chỉnh chính sách? Các nguyên lý cơ bản hay công thức vận hành được sử dụng tại NHNN hay cơ chế “ra quyết định” có dễ dàng được nhận biết? Có quy luật nào ở đây? Có động cơ khách quan hay chủ quan nào ở đây? Ai là người chịu trách nhiệm trước mỗi quyết định đúng sai của NHNN? Cá nhân hay tập thể? Trở lại việc ban hành các thông tư của NHNN và các chính sách tài chính được đưa ra, chúng ta thấy “tính đồng bộ” và “tính nhất quán” đều chưa được rõ ràng. Ví dụ, trong năm 2008 và 2009, các chính sách thắt chặt tín dụng đột ngột và quá mức đã góp phần gây ra việc “thắng gấp” tốc độ phát triển kinh tế của doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp lâm vào cảnh “sống dở, chết dở” thậm chí phá sản! Khi khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra, việc hỗ trợ lãi suất 4% tới tay những doanh nghiệp nào, đúng đối tượng hay chưa, hiệu quả ra sao phải chờ các kết luận của cơ quan thanh tra mà sơ bộ đã có nhiều sai phạm như báo chí đưa tin.
Trong bốn tháng hồi hộp đợi xem thông tư 13 có được “sửa” hay không, các ngân hàng và doanh nghiệp rơi vào thế bị động, không biết trước tình hình sẽ diễn biến tiếp theo ra sao. Ngân hàng ngập ngừng không dám cho vay thì doanh nghiệp không có tiền triển khai các dự án kinh doanh, kéo theo mọi việc đình trệ.
Đến giờ, hệ thống ngân hàng vẫn đang trong tình trạng lúng túng không biết làm sao để hạ lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp. Xét cho cùng vẫn phải để doanh nghiệp sống thì nền kinh tế thực mới sống, mới “nuôi” được các chủ thể và khách thể khác. Chúng ta giống như một bệnh nhân lỡ uống thuốc điều trị bệnh quá liều (do đã đẩy lãi suất các loại tăng quá cao) nay đến lượt “liều thuốc quá mức này” quay lại hại thân ta: làm suy nhược cơ thể người bệnh, gây ra các bệnh khác – làm suy nhược nền kinh tế sản xuất và kinh doanh thực của quốc gia. Giải quyết bài toán lại bằng cách kêu gọi các ngân hàng “đồng thuận” hạ lãi suất trong khi nhu cầu và năng lực của mỗi ngân hàng đều không như nhau, điều này có trở nên “chủ quan, duy ý chí”? Tại sao NHNN với các công cụ trong tay không tự làm một số việc trong tầm tay mình như cắt giảm lãi suất cơ bản, hạ lãi suất trái phiếu chính phủ và một số động tác điều chỉnh khác mà lại kêu gọi doanh nghiệp “đồng thuận” chịu thiệt? Nút thắt hay các chướng ngại đang nằm ở đâu? Một vấn đề khác được đặt ra là sức chịu đựng của doanh nghiệp đối với lãi suất ngân hàng là bao nhiêu phần trăm và như thế nào? Đây cũng là sức chịu đựng của mỗi người dân vì “dân” là người tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp. Các nhà làm chính sách tài chính, ngân hàng có tham vấn doanh nghiệp trước khi ra chính sách? Nguồn: SGTT
|