Tuy
nhiên, trên thực tế doanh nghiệp cần nhiều tên hơn thế, như tên tiếng
Việt - tên bằng tiếng nước ngoài, tên giao dịch bằng tiếng Việt - tên
giao dịch bằng tiếng nước ngoài, tên viết tắt bằng tiếng Việt - tên
viết tắt bằng tiếng nước ngoài. Thậm chí một số doanh nghiệp còn sử
dụng thương hiệu như một loại tên giao dịch. Đây là nhu cầu và một thực
tế cần được xem xét.
Đơn cử một trường hợp cụ thể: tên tiếng Việt đầy đủ
của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam được dịch ra
tiếng Anh là “Vietnam Joint Stock Commercial Bank for Industry and
Trade”, tên giao dịch bằng tiếng Việt là “Ngân hàng Công thương Việt
Nam” dịch ra tiếng Anh là “Vietnam Bank for Industry and Trade”, tên
viết tắt là “Vietinbank”.
Thêm vào đó, khi nhắc đến ngân hàng này, người ta
quen gọi là Ngân hàng Công thương. Lúc này, “Công thương”, vốn là một
bộ phận có khả năng phân biệt trong tên của ngân hàng này, được sử dụng
như một loại tên giao dịch.
Với ví dụ trên, chúng ta có thể thấy tên doanh
nghiệp không chỉ gói gọn trong ba tên mà Luật Doanh nghiệp cho phép.
Cần lưu ý là các luật chuyên ngành (như Luật các tổ chức tín dụng, Luật
Luật sư, Luật Công chứng…) không ràng buộc chặt chẽ về việc đặt tên như
Luật Doanh nghiệp, do vậy, các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo
luật chuyên ngành có thể có nhiều hơn ba tên. Điều này cũng tạo ra sự
kém bình đẳng, ít nhất là trong việc đặt tên giữa các doanh nghiệp theo
luật chuyên ngành và Luật Doanh nghiệp. Việc hạn chế doanh nghiệp trong
ba tên (mà thực chất là 2) như Luật Doanh nghiệp là một chiếc áo chật
khiến doanh nghiệp cảm thấy bức bối, khó chịu.
Tên doanh nghiệp và tên thương mại?
Ngoài những tên gọi theo Luật Doanh nghiệp, doanh
nghiệp còn có một loại tên khác: tên thương mại theo Luật Sở hữu trí
tuệ. Tên thương mại được luật định nghĩa là tên gọi của tổ chức, cá
nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt với các tổ chức, cá
nhân khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh - tức là khu vực
địa lý nơi tổ chức, cá nhân ấy có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh
tiếng.
Cũng theo luật, tên thương mại sẽ được bảo hộ nếu có
khả năng phân biệt với tổ chức, cá nhân khác trong cùng lĩnh vực và khu
vực kinh doanh như: (i) có chứa thành phần tên riêng (trừ trường hợp đã
được biết đến rộng rãi do sử dụng); (ii) không trùng hoặc tương tự đến
mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước
trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh; (iii) không trùng hoặc tương
tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn
địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng.
Với quy định trên, tên thương mại có nhiều nét tương
đồng với tên doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp
cũng yêu cầu tên doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành tố là loại hình
doanh nghiệp và tên riêng, cũng như không được trùng hoặc gây nhầm lẫn
với tên của doanh nghiệp đã đăng ký. Đồng thời, Luật Doanh nghiệp và
Luật Sở hữu trí tuệ đều không cho phép dùng tên của cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội
- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc chủ
thể khác để làm tên doanh nghiệp hay tên thương mại.
Tuy nhiên, câu hỏi nêu ra là tên thương mại có phải
là tên doanh nghiệp không? Hiện chưa có một văn bản nào xác nhận hai
vấn đề này. Tên doanh nghiệp và tên thương mại, dù có nhiều điểm tương
đồng trong cách đặt tên, nhưng được bảo vệ theo hai góc độ khác nhau:
tên doanh nghiệp được Luật Doanh nghiệp bảo vệ như một thành phần cấu
thành tư cách pháp lý của doanh nghiệp, còn tên thương mại được Luật Sở
hữu trí tuệ bảo hộ với tư cách là đối tượng sở hữu trí tuệ.
Thêm vào đó, cơ sở xác lập quyền đối với tên doanh
nghiệp và tên thương mại là khác nhau: quyền đối với tên doanh nghiệp
phát sinh khi doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,
trong khi quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập
trên cơ sở sử dụng hợp pháp, mà không cần đăng ký với cơ quan nào. Như
vậy, theo logic mà nói, tên doanh nghiệp chính là tên thương mại nhưng
tên thương mại chưa hẳn là tên doanh nghiệp. Phạm vi của tên thương mại
có thể rộng hơn tên doanh nghiệp.
Câu hỏi tiếp theo là doanh nghiệp có thể có nhiều
tên thương mại hay chỉ có một tên thương mại duy nhất? Vấn đề này cũng
đang bị bỏ ngỏ. Như đã phân tích ở trên, Luật Sở hữu trí tuệ không cấm
doanh nghiệp cùng lúc sử dụng từ hai tên thương mại trở lên. Theo hướng
đó, doanh nghiệp có quyền sử dụng hơn một tên thương mại, miễn là doanh
nghiệp chứng minh việc sử dụng hợp pháp tên thương mại của mình theo
đúng Luật Sở hữu trí tuệ.
Liên quan đến tên doanh nghiệp và tên thương mại,
luật pháp của Úc thừa nhận việc doanh nghiệp được quyền đăng ký tên
thương mại riêng theo luật về tên thương mại (Business Name Act) và
doanh nghiệp có thể đăng ký cùng một lúc nhiều tên thương mại. Đây cũng
có thể là một hướng đi mà các nhà làm luật Việt Nam có thể tham khảo
khi giải quyết mối quan hệ giữa tên thương mại và tên doanh nghiệp.
Như đã phân tích, doanh nghiệp hiện ít có sự chọn
lựa trong việc đặt tên theo Luật Doanh nghiệp, vì vậy, cần thiết phải
mở rộng quy định về đặt tên theo Luật Doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu
hợp lý của thực tiễn. Hơn nữa, quy định về tên của doanh nghiệp được
quy định trong cả Luật Doanh nghiệp và Luật Sở hữu trí tuệ và do hai hệ
thống này là tách biệt, chắc chắn phát sinh mâu thuẫn trong việc đặt,
sử dụng tên doanh nghiệp và tên thương mại. Vì thế cần có văn bản liên
kết và thống nhất các quy định về tên doanh nghiệp và tên thương mại
nhằm giúp doanh nghiệp tránh rắc rối khi sử dụng các loại tên của mình.