Những thay đổi đó của Hoa Kỳ, theo luật sư Barringer, nhằm góp phần giải quyết thâm hụt thương mại rất lớn với Trung Quốc. “Doanh nghiệp Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng mạnh hơn từ các biện pháp áp thuế chống bán phá giá của Hoa Kỳ, do doanh nghiệp Việt Nam bị coi là có nguy cơ tiềm tàng trong tương lai và bởi nhiều nhà đầu tư đã dịch chuyển đầu tư từ Trung Quốc sang Việt Nam. Các ngành sản xuất đồ gỗ, sản xuất mắc áo và một số mặt hàng khác của Việt Nam đang tăng về lượng xuất khẩu là một ví dụ về sự chuyển dịch này”, ông Barringer nói.
Cụ thể, chuyên gia này cho biết, “gói thực thi Luật Thương mại” mà Bộ Thương mại Hoa Kỳ thực hiện sẽ là một loạt đề xuất thay đổi quy định nhằm tăng cường pháp luật về chống bán phá giá và chống trợ cấp.
Mục tiêu mà Bộ Thương mại Hoa Kỳ đặt ra là tạo thêm nhiều khó khăn đối với nỗ lực bãi bỏ lệnh áp thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm nào đó. Việc điều tra với nhiều câu hỏi không liên quan sẽ làm cho các bị đơn mệt mỏi và nếu các doanh nghiệp không kịp trả lời những câu hỏi này thì sẽ bị áp mức thuế rất cao.
Chuyên gia này cũng cho biết, sẽ không có mức trần cho việc rà soát hành chính sau khi Bộ Thương mại Hoa Kỳ công bố áp dụng mức thuế ban đầu. Sau mỗi kỳ rà soát, mức thuế thường bị áp cao vọt lên và không theo quy luật nào cả. Vụ cá tra của Việt Nam sau lần rà soát hành chính lần thứ 6 vừa qua bị áp thuế lên tới 136% là nằm trong những biện pháp này của Hoa Kỳ. Điều này sẽ khiến các doanh nghiệp luôn lo lắng với những quyết sách của Hoa Kỳ liên quan tới mỗi vụ điều tra chống bán phá giá.
Việc lựa chọn doanh nghiệp ngẫu nhiên trong số các doanh nghiệp xuất khẩu một mặt hàng vào Hoa Kỳ để thực hiện điều tra cũng sẽ làm khó các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp của Việt Nam. “Nếu điều tra tại các doanh nghiệp xuất khẩu lớn, thì kết quả sẽ tốt hơn, vì các doanh nghiệp này có thể tham gia trả lời tích cực. Nhưng nếu điều tra được thực hiện với doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu vào Hoa Kỳ rất ít, thì doanh nghiệp có thể bỏ không trả lời nhiều câu hỏi khi vấp phải những thủ tục phức tạp. Khi đó, mức thuế mà Hoa Kỳ áp đặt sẽ gây khó cho các doanh nghiệp khác”, ông William H. Barringer phân tích.
Ví dụ cho hiện tượng này là vụ Hoa Kỳ điều tra về túi nhựa PE của Việt Nam. Khi đó, doanh nghiệp nhỏ đã bỏ không tham gia trả lời điều tra và kết quả mức thuế hơn 60% đã được áp dụng. Thời gian gia hạn và trả lời câu hỏi cũng bị rút ngắn, nên gây bất lợi rất lớn cho các doanh nghiệp bị đơn.
Trên thực tế, những lo ngại tại thị trường Hoa Kỳ xuất hiện nhiều hơn từ khi Tổng thống Obama đưa ra “Sáng kiến xuất khẩu quốc gia”, trong đó có việc duy trì và thực thi nghiêm ngặt các đạo luật thương mại của Hoa Kỳ. Năm 2009, Cục Quản lý nhập khẩu quốc gia của nước này đã khởi xướng 34 vụ việc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp (tăng so với 19 vụ trong năm 2008). Số vụ điều tra liên quan đến các nền kinh tế phi thị trường chiếm tới 1/3 tổng số vụ mà Cục này đã tiến hành. Đây là xu hướng cảnh báo những khó khăn cho các doanh nghiệp từ những quốc gia được coi là chưa có nền kinh tế thị trường như Việt Nam.
Trong bối cảnh chính sách về thương mại của Hoa Kỳ có những thay đổi như đã nói ở trên, những rủi ro khi kinh doanh tại thị trường Hoa Kỳ sẽ lớn hơn với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo bà Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn về phòng vệ thương mại (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam), những động thái của thị trường xuất khẩu cần được các doanh nghiệp theo dõi chặt chẽ nhằm giảm thiểu rủi ro. Tính phức tạp trong chính sách thương mại của những nước phát triển như Hoa Kỳ sẽ khiến doanh nghiệp khó tiếp cận thị trường. Do đó, vai trò của những chuyên gia tư vấn cần được doanh nghiệp tận dụng. Doanh nghiệp cũng nên tham khảo những thông tin của hệ thống cảnh báo sớm về các vụ kiện vừa được Bộ Công thương xây dựng để có những giải pháp hợp lý.
Duy Đông (baodautu.vn)
Tiếng Việt
English










